Chào mừng các bạn
»»-((¯`·(¯`vŽ¯)--»*** MasterSpy *** «--(¯`vŽ¯)·`¯))-«« - Kinh nghiệm phòng chống virus, spyware
ღLONELYღ
  Home
  => Cách tạo một trang web cho riêng mình !
  => Một số địa chỉ trang web hay dành cho bạn, ....cho tôi !
  => 5 bước cơ bản để diệt tận gốc Spyware
  => 10 điều “lính mới” nên biết
  => 10 bước để lập kế hoạch cho nghề nghiệp tương lai của bạn
  => 15 LỜI KHUYÊN HỌC TIẾNG ANH
  => 21 kho lưu dữ liệu miễn phí trên Internet
  => PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ LOGIC VỊ TỪ
  => 50 cuốn sách văn học cần đọc
  => Những bài học từ Adam Khoo
  => Dùng Admodify.net để quản trị và phục hồi Exchange 2003
  => Cuộc đời của Albert Einstein
  => Cảnh giác với hacker và keylogger!
  => Phần mềm miễn phí giúp bảo vệ computer khi online
  => Học thi - cần ăn uống hợp lý
  => Hacker “oánh” mỗi PC chỉ mất 39 giây
  => Xác định nguyên nhân máy tính tự khởi động !
  => Diệt virus Autorun
  => Bấm dây mạng !
  => Bảo vệ mắt khi sử dụng máy tính !
  => Blog ra đời như thế nào?
  => Bài tập Pascal kiểu bản ghi !
  => Hướng dẫn ôn tập lập trình Pascal căn bản !
  => Cách Diệt Virus
  => Cách gỡ bỏ thủ công Symantec Antivirus an toàn (Phần I)
  => Tổng hợp các lệnh ngoài DOS
  => Cài HIREN BOOTCD vào ổ cứng để cứu hộ
  => Cài windows media player 11 ( không cần active window)
  => Cấu hình mạng ADSL cho người dùng tại nhà
  => Thiết Lập Sevice trong windows XP (giúp máy chạy nhanh hơn)
  => Giới Thiệu Centos
  => Chẩn đoán lỗi của màn hình !
  => Chọn DNS truy cập mạng !
  => Kinh nghiệm phòng chống virus, spyware
  => Trắc nghiệm nghiệp vụ kế toán bằng tiếng Anh !
  => Hướng dẫn chụp hình bằng webcam
  => Tổng Hợp Code Dùng Trong Việc Tạo BLOG
  => Công dụng của các dịch vụ trong Windows
  => Sử dụng Popcap game mãi mãi !
  => Cử nhân CNTT không làm CNTT
  => Tìm hiểu DNS.Các bước thiết lập khi mới đăng ký tên miền
  => Làm DNS server online
  => Nội dung định nghĩa về vật chất của Lê Nin
  => Đọc và ... suy nghĩ !
  => Đôi điều về bảo mật hệ thống mạng trong công ty!
  => Khắc phục lỗi 999 Error của Yahoo
  => Chuyển dữ liệu của ổ C từ FAT32 thành NTFS
  => Gỡ password CMOS bằng cách nào?
  => Phần I: Cơ bản về lỗi "màn hình xanh" trong Windows
  => Tổng quan về Group Policy - từ đơn giản đến phức tạp !
  => Gửi nhiều file qua Yahoo Mail
  => Từ XP cài Hacao Linux 2.16 Pro (file ISO) vào đĩa cứng (LiveCD)
  => Chịu thuế và không chịu thuế
  => Hội thảo qua mạng với NetMeeting
  => HOST Free
  => Hướng dẫn download trên megaupload
  => KGB nén File từ 450MB còn 1.43MB rất tiện chia sẻ file trên mạng
  => Khắc phục rớt mạng liên tục
  => Kiến trúc Oracle
  => Thành công trên giảng đường đại học
  => Kỹ thuật Photoshop cơ bản !
  => Kinh nghiệm học tiếng ANH
  => KInh nghiệm học TOÁN CAO CẤP
  => Đôi điều về quá trình làm luận văn (Phần 2)
  => Làm theme cho Blog 360
  => Chia sẻ những điều học được từ cách làm việc theo nhóm
  => Vạch kế hoạch cho tương lai
  => Các Lệnh Cơ Bản trong LINUX
  => Lịch sử các nước ĐẾ QUỐC
  => Lịch sử Việt Nam
  => Links những trang web hay
  => Tạo mail server online bằng IP Động
  => Tự làm giao diện cho Yahoo Mash!
  => Mấy điểm cần tránh
  => Hỏi về IPHONE
  => Máy tính không khởi động từ ổ đĩa cứng!...?
  => MIÊU TẢ SẢN PHẨM MÁY IN hp1320
  => Phá Deep Freeze - Cướp lấy password!!!
  => Những "tuyệt chiêu" chọn mua laptop cũ
  => NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA BÁO CHÍ
  => Tìm hiểu nhân của hệ điều hành Linux
  => Sửa lỗi NTLDR is missing
  => Ổ cứng chóng hỏng vì... điều hòa nhiệt độ
  => Những phím tắt thông dụng trong Photoshop 7.0
  => Phím tắt trong WORDS
  => Bí mật của PHỤ NỮ
  => Hướng dẫn post hình lên mạng, và 1 số website để upload hình
  => Chương trình quản lý số điện thoại !
  => Quản lý các mạng Windows dùng script - Phần 2: Hoàn chỉnh script -
  => Cấu hình cho máy in N2500
  => Xóa nick của mình trong Friend List của người khác
  => Rollback Rx Pro:
  => User và pass của một số router
  => Giải pháp sao lưu trực tuyến miễn phí (Phần cuối)
  => Vài điều về Scanner
  => Chọn hệ điều hành của bạn
  => Làm server online tận dụng đường truyền ADSL
  => Thuật toán - Cấu trúc dữ liệu
  => So sánh Oracle và SQL Server ?
  => Cấu hình các công nghệ bảo vệ mạng Windows XP SP2 trên một máy tính
  => Tổng quan về tiết kiệm điện khi sử dụng máy tính !
  => Phần IV: Xử lý sự cố phần cứng
  => CÁC VẤN ĐỀ VỀ SỨC KHỎE PHỤ NỮ
  => Sử dụng phím tắt với Internet Explorer 7
  => SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH VẬT
  => Nguồn gốc máng cỏ giáng sinh
  => Sưu tầm câu đố !
  => SVCHOST
  => Phòng chống virus cho mạng máy tính doanh nghiệp: kinh nghiệm thực tế
  => Các lệnh căn bản trong ngôn ngữ html
  => Sức mạnh của card đồ họa !
  => Cách tải Nhạc nét
  => Triết học và tâm sự của các nhà giáo
  => Phát triển chiều cao
  => Tăng tốc toàn bộ máy tính bằng tay
  => Tăng tốc WinXP
  => Chống mất cắp cho laptop với Laptop Alarm
  => Tạo file ghost!
  => Tạo một CSS layout từ một bản thiết kế (Phần 1 đến 8)
  => Tạo nick ảo trong Yahoo Messenger
  => Tết Đoan Ngọ bắt đầu từ giữa trưa
  => Thói quen tốt: Nghĩ vậy mà không phải vậy
  => Thomas Edison & những phát minh vĩ đại -
  => Windows Vista: các thủ thuật nhỏ khi sử dụng
  => Thủ thuật Blog 360
  => Thủ thuật Internet Explorer 7
  => Thủ thuật tăng tốc cho Windows
  => Thủ thuật Visual basic
  => Thủ thuật Yahoo! Messenger
  => Yahoo Messenger
  => Khám phá mạng xã hội Yahoo! Mash
  => Mẹo tìm kiếm
  => Tìm kiếm trong Excel
  => Tóc hợp khuôn mặt
  => Tokyo - Một chuyến đi
  => Mười quy luật then chốt về Bảo mật
  => Tổng hợp tất cả các kỹ thuật vượt tường lửa
  => Trang trí USB
  => Thuật toán - Cấu trúc dữ liệu CRC (Cyclic Redundancy Check)
  => Các Tuyệt kỹ khiến phái nữ phải ngã lòng
  => CÁCH UP ẢNH QUA HOST TẠI DIỄN ĐÀN
  => Quản lý danh sách bạn chat trong Yahoo! Messenger
  => Error Doctor 2007
  => TuneUp Utilities® 2007
  => Bộ gõ tiếng Việt: Unikey
  => Hướng dẫn viết bài
  => Tường lửa mới trong Windows Vista và Windows Server Longhorn
  => Web 2.0 không chỉ là công nghệ
  => Các website hữu ích về du học bậc sau đại học tại Hoa Kỳ
  => Wi-fi và an toàn thông tin
  => Thuật toán - Cấu trúc dữ liệu So khớp chuỗi với các ký tự wildcard
  => Xóa địa chỉ và homepage
  => USB không cho ghi
  => Yêu cầu của Quản trị mạng
  => Cách Add Feed trong Blog 360
  => Cách tạo theme trong suốt
  => Đề cương KT-Chính Trị
  Contact
  Guestbook
  Story
  Kiếm tiền thật dễ dàng

Biển xanh ... cát trắng

 

 

Kinh nghiệm phòng chống virus, spyware

Khái niệm :

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu một số loại virus "quen thuộc" với người dùng gia đình. Một số loại hầu như đã "tuyệt chủng" vì không theo kịp sự phát triển của máy tính, của Internet do chỉ lây lan trong đối tượng bị nhiễm, khả năng gây nguy hại không cao, dễ bị phát hiện. Tuy nhiên, đây không phải là tin mừng vì chúng ta phải tiếp tục "đối đầu" với thế hệ kế tiếp của chúng: tinh quái hơn, hiểm độc hơn, lây nhiễm nhanh hơn, khả năng phá hoại khủng khiếp... Bạn có thể tham khảo thêm thông tin về lịch sử phát triển của virus trong bài viết "Virus máy tính: 20 năm nhìn lại", ID: A0603_95.

Virus. Là một đoạn mã, một chương trình nhỏ được viết ra nhằm thực hiện một việc nào đó trên máy tính bị nhiễm mà không được sự cho phép hoặc người dùng không biết. Chúng có khả năng tự nhân bản, lây lan sang các tập tin, chương trình khác trong máy tính và sang máy tính khác. Virus máy tính thường được chia thành một số loại như: File virus (Jerusalem, Cascade...) là loại virus lây vào những tập tin của một số phần mềm thường sử dụng trong hệ điều hành Windows như tập tin .com, .exe, .bat, .pif, .sys...; Boot virus (Disk Killer, Michelangelo, Stoned...) là loại virus lây nhiễm vào đoạn mã trong cung từ khởi động (boot sector) của đĩa cứng; Macro virus (W97M.Melissa, WM.NiceDay, W97M.Groov...) lây nhiễm vào tập tin trong MS. Office. Ngoài ra, còn một số loại virus khác như virus lưỡng tính (kết hợp giữa boot virus và file virus), master boot record virus...

Trojan horse. Là những chương trình được ngụy trang bằng vẻ ngoài vô hại nhưng ẩn chứa bên trong những đoạn mã nguy hiểm nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, mở các cổng để hacker xâm nhập, biến máy tính bị nhiễm thành nguồn phát tán thư rác hoặc trở thành công cụ tấn công một website nào đó, chẳng hạn như W32.Mimic. Không như virus và worm, Trojan horse không có khả năng tự nhân bản để lây lan, vì vậy chúng thường kết hợp với virus, worm để xâm nhập vào máy tính người dùng.

Spyware. Là phần mềm theo dõi những hoạt động của bạn trên máy tính. Chúng thu thập tất cả những thông tin cá nhân, thói quen cá nhân, thói quen lướt web của người dùng và gửi về cho tác giả. Spyware là mối đe dọa lớn nhất đối với sự an toàn của một máy tính, một hệ thống máy tính.

Adware. Đơn giản là một dạng phần mềm quảng cáo lén lút cài đặt vào máy tính người dùng hoặc cài đặt thông qua một phần mềm miễn phí, được người dùng cho phép (nhưng không ý thức được mục đích của chúng). Tuy nhiên, chúng không dừng lại ở tính đơn giản là quảng cáo khi kết hợp với những loại virus khác nhằm tăng "hiệu quả” phá hoại.

Worm. Sâu máy tính là một loại phần mềm có sức lây lan nhanh, rộng và phổ biến nhất hiện nay. Không giống với virus thời "nguyên thủy", worm không cần đến các tập tin "mồi" để lây nhiễm. Chúng tự nhân bản và phát tán qua môi trường Internet, mạng ngang hàng, dịch vụ chia sẻ...

Nhận biết máy tính bị nhiễm virus, spyware ...

Sau khi xâm nhập vào hệ thống, một số máy virus lập tức thực hiện việc phá hoại. Số khác lại ẩn nấp, âm thầm lây lan sang những máy tính khác, chờ đợi giờ G để đồng loạt "tổng tấn công" khiến người dùng trở tay không kịp; điển hình như virus CIH, Melissa. Một số hiện tượng thường gặp khi máy tính nhiễm virus: Có những triệu chứng bất thường như đĩa cứng bị truy cập liên tục; hệ thống hoạt động ì ạch; một số trang web lạ, popup quảng cáo tự động nhảy ra khi bạn làm việc. Nếu sử dụng Windows NT/2000/XP, bạn có thể xem thông tin trong Windows Task Manager như CPU Usage luôn ở mức 100%, xuất hiện một số tập tin thực thi lạ trong tab Processes của Windows Task Manager.



Và thường có bao giờ bạn cảm thấy máy tính của mình lại trở nên chậm chạp đến nỗi bạn không đủ kiên nhẫn để một trình ứng dụng nào đó kết thúc thời gian khởi động của nó? Hay gần đây, bạn có thấy trên trình duyệt đột nhiên xuất hiện một thanh toolbar mới mà trước đây bạn chưa hề thấy nó xuất hiện? Bạn thấy những popup quảng cáo xuất hiện ngay cả khi bạn không lướt web?

Trên đây là một vài triệu chứng cho thấy máy tính của bạn đã bị "dính" spyware, hardware hoặc những phần mềm độc hại không mong muốn. Cũng giống virus, những chương trình loại này có thể xâm nhập vào máy tính thông qua con đường gắn kèm vào các file download, e-mail hoặc các website khi người dùng viếng thăm. Mặc dù nó không mang lại những tác hại giống như virus, thế nhưng các chương trình kiểu này có thể làm máy tính của bạn chậm chạp đáng kể, không chỉ về tốc độ chạy các trình ứng dụng mà còn cả tốc độ kết nối vào Internet, giảm thiểu năng suất làm việc, và đôi khi nguỗn dữ liệu "nhạy cảm" của bạn có thể tiết lộ ra ngoài.

Bạn có thể tránh được nguy cơ cài đặt những phần mềm không mong muốn bằng việc chọn lựa cẩn thẩn các trình phần mềm miễn phí trên mạng khi download về máy, hiểu được các thiết lập thông số an toàn của trình duyệt. Gõ bỏ adware và spyware đòi hỏi cần có khả năng hiểu biết về máy tính vì đôi khi chúng ẩn náu rất tinh vi. Tuy nhiên, "vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn", có một số tiện ích miễn phí có thể phát hiện và "tống khứ" những thứ rác rưởi trong máy tính.

 Dưới đây tớ xin nói thêm một tí về Anware và spyware :

Anware và spyware là gì?

Adware là phần mềm khi được cài đặt trên máy tính, nó có thể biến trình duyệt windows thành nơi chứa popup quảng cáo. Phần mềm này có thể ghi lại thông tin về trình duyệt để rồi gửi cho các địa chỉ đã được lập sẵn. Xét về góc độ ảnh hưởng của loại phần mềm này đối với hệ thống, có thể coi nó là một thứ "vô thưởng vô phạt", có nghĩa không ảnh hưởng gì tới sự an toàn của máy tính. Tuy nhiên, cái giá mà bạn phải trả chính là tốc độ hoạt động của hệ thống giảm và băng thông kết nối bị chiếm dụng.

Spyware (Tiếng Anh gọi nó là “spyware”, tiếng Pháp gọi nó là “logiciel espion”, đồng nghĩa với từ “phần mềm gián điệp” trong tiếng Việt. Đó là 1 chương trình nhỏ thường xuyên được “khuyến mãi” thêm trong hầu hết các phần mềm miễn phí) cũng giống như adware, nếu xét về mục đích được tạo ra. Nó có thể quét tìm những thông tin cá nhân được lưu trong ổ cứng, hoặc tạo kết nối giữa địa chỉ e-mail của người dùng với những trang web mà họ từng viếng thăm. Khi spyware phát hiện được địa chỉ e-mail của bạn, một "tương lai đen tối" về nạn spam sẽ là điều hiển nhiên chờ bạn.

Xảo quyệt hơn spyware và adware là phần mềm có tên "dialers". Nói nôm na, phần mềm này có thể "cướp đoạt" kết nối Internet của bạn, tự động định tuyến vào các website yêu cầu số điện thoại, để rồi đến cuối tháng bạn mới bật ngửa ra khi thấy hoá đơn thanh toán của mình lên tới hàng nghìn USD. Dialers thường được gắn kèm vào các spam khiêu dâm, được xem là bệnh dịch lan tràn đối với hầu hết hộp thư e-mail hiện nay. Chỉ đơn giản bằng một thao tác click chuột để đọc loại spam này, dialers sẽ được cài đặt vào máy.

Phần lớn adware và spyware có thể gói trong những chương trình phần mềm miễn phí như Kazaa, IMesh, và BearShare, Nếu cài đặt một trong số các trình này sẽ làm phát sinh hàng chục chương trình khác được cài đặt vô tổ chức trong máy. Spyware là hoàn toàn có thể xảy ra.

Spyware làm gì?

Người Pháp thường gọi chúng là những tên “mách lẻo” điện tử (mouchards électroniques). Thật vậy, khi được cài đặt vào máy của người sử dụng, các điệp viên sẽ bắt đầu ngay công việc của mình khi chiếc máy đó kết nối Internet. Chủ nhân của các tên “mách lẻo” này sẽ nhận được mọi thông tin về việc sử dụng chiếc máy tính đó: từ thói quen duyệt web, các địa chỉ trang web hay, đến những thông số kỹ thuật của máy và nội dung của các đĩa cứng, nhờ đó mà họ biết được các địa chỉ thư điện tử và phiền toái hơn là cả các mật mã nữa.

Ông bà ta có câu “nhân tri sơ, tính bổn thiện" thì Spyware cũng thế. Khi sinh ra chúng, những nhà sản xuất đều thật ngọt ngào cho rằng nhờ các Spyware này, khách hàng của họ sẽ được chăm sóc chu đáo hơn bởi các dịch vụ hậu mãi. Họ hứa hẹn rằng tất cả các lỗi của chương trình sẽ được gửi trực tiếp về cho nhà sản xuất và nhà sản xuất sẽ gửi cho khách hàng của mình những file để sửa lỗi phần mềm. Một lý lẽ nghe “bùi tai” hơn là việc sẽ gửi thông báo về việc ra đời những phiên bản mới của phần mềm đến khách hàng để họ “tiện bề cập nhật”.

Nhưng đó chỉ là mặt nổi của vấn đề. Những gì mà Spyware mang lại cho người sử dụng chẳng thấm tháp là bao so với những gì mà họ phải “chịu đựng”. Dần dà, các máy “mách lẻo” bị lạm dụng vì những mục đích thương mại. Các Spyware sẽ xâm nhập máy tính của bạn và thu thập tất cả các thông tin cá nhân của người sử dụng máy. Các thông tin này sẽ được bán lại cho các công ty khác, những người cũng rất cần chúng. Hãy lấy ví dụ từ các công ty chuyên gửi spam. Có bao giờ bạn tự hỏi làm sao những kẻ chuyên gửi thư rác biết nhiều địa chỉ e-mail đến thế không? Đó là do họ ### chúng ở các công ty bố mẹ của các Spyware. Rồi có bao giờ bạn tự hỏi rằng không hiểu tại sao người ta lại biết bạn thích bóng đá mà gửi cho bạn nhiều yêu cầu tham gia các diễn đàn về bóng đá trên mạng? Có thể bạn hơi bất ngờ nhưng tất cả các thói quen duyệt web, những trang web mà bạn hay thăm viếng, những thông tin bạn thường đọc,… đều được các Spyware “học thuộc lòng” rồi “méc” lại cho các trang web khác.

Spyware từ đâu ra?

Phần mềm gián điệp (spyware) theo dõi thói quen lướt mạng của bạn, rồi dựa theo đó tung ra màn hình những quảng cáo gây khó chịu. Bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu hơn về bản chất vấn đề và phương pháp phòng chống.

Theo định nghĩa của Ủy ban Thương mại liên bang Mỹ, spyware “là một phần mềm hỗ trợ việc thu thập thông tin về một cá nhân hay tổ chức mà họ không biết và có thể gửi những thông tin đó tới một đối tượng khác không có sự đồng ý của người tiêu dùng, hay áp đặt điều khiển lên một máy tính mà chủ nhân không được biết”.

Thường thì bạn “đưa giặc vào nhà” khi bấm vào các đường link hứa hẹn những thứ “hấp dẫn”, đề nghị bạn tải về một phần mềm miễn phí với những điều khoản lập lờ. Những đối tượng chuyên phát tán các đường link để tải spyware được trả khoảng 0,15 USD cho mỗi lần một người lướt mạng thiếu cảnh giác bấm vào “miếng mồi” được giăng trên bẫy.

Một kẻ đặt bẫy trẻ tuổi, xin tạm gọi là X., kể lại: “Tụi bạn đăng ký cho tôi trong một đêm say sưa. Chúng nó bảo đấy là một cách kiếm tiền dễ dàng. Tất cả những gì tôi phải làm là đăng ký và gửi những quảng cáo giả, như ‘Bấm vào đây để xem ảnh tôi!’”. Khi người dùng bấm vào đó, một cửa sổ sẽ yêu cầu họ tải phần mềm xem ảnh. Tuy nhiên, người dùng không tải được tấm ảnh nào cả. Thay vào đó, họ nhận được lời chào “Trở lại sau để xem ảnh”. Quảng cáo giả nhưng máy tính bị nhiễm bệnh thật.

X. nhận xét các diễn đàn và những website không được kiểm soát là những nơi tốt nhất để đặt quảng cáo, vì rất nhiều người có khuynh hướng hay bấm vào các đường link “quyến rũ”. Đương nhiên, nếu có nhiều người dùng than phiền, kẻ phát tán spyware sẽ bị tống cổ ra khỏi một site hay một trang trong site nhưng đây không phải là một vấn đề lớn. “Cần phải liên tục di chuyển”, X. tiết lộ, “Việc đó cũng dễ thôi. Vì thế, đặt lại quảng cáo chẳng khó khăn gì cả”.

Được trả 0,15 USD mỗi cú bấm chuột, X. nhận thù lao 2 tuần/lần, mỗi lần vài trăm USD. Anh ta cho hay: “Lẽ ra tôi kiếm được bộn tiền hơn nhiều. Tất cả những gì cần làm là dựng thêm quảng cáo và đáng ra tôi đã tăng được thu nhập gấp đôi hoặc gấp ba”. X. nói thêm rằng nay anh đã bỏ trò kiếm tiền khá thất đức này.

Những kẻ gieo rắc spyware có thể cũng là nạn nhân của các công ty sản xuất những phần mềm độc hại này. Nhiều công ty trả tiền cho các cá nhân phát tán phần mềm gián điệp có đặt thông điệp tại website của họ, trong đó có điều khoản cho người đọc biết nếu họ gian lận, hãng có quyền không chi trả thù lao. Nhiều kẻ phát tán spyware không đọc thông điệp đó nhưng hiểu rằng công ty sẽ trả tiền để họ lừa người khác tải về phần mềm gián điệp.

Khi được hỏi có cảm thấy áy náy vì đã làm ô nhiễm máy tính của những người dùng cả tin hay không, X. đáp: “Tôi dùng lời lẽ khêu gợi mang hàm ý những bức hình khiêu dâm đang chờ đợi. Và nếu bấm chuột vào quảng cáo của tôi thì họ là những kẻ đồi trụy. Vì thế, tôi không cảm thấy bận lòng chút nào cả”. Anh ta nhận xét bất kỳ ai khi lên mạng cũng phải tự vũ trang cho mình phần mềm chặn spyware, ngăn spam và cần có tường lửa cá nhân. “Nếu không làm thế, họ sẽ là những kẻ ngốc”, X. nói.

Đặt quảng cáo lừa đảo trên mạng là một cách kiếm tiền dễ dàng đầy quyến rũ. Mỗi tháng, các công ty sản xuất spyware chi trả hàng trăm nghìn USD để tạo dựng lên cả một hệ thống có cấu trúc bậc thang của những kẻ chuyên phát tán. Bản chất gian lận của spyware khiến khó lần ra kẻ tạo ra nó cũng như nơi và cách thức nó được gieo rắc. Hơn nữa, người tiêu dùng khó nhận biết vấn đề máy tính của họ đang gặp phải là do phần mềm gián điệp gây ra. Ngay cả khi nhận thức được, họ cũng không truy nguyên được nguồn gốc của spyware.

Trong một số trường hợp, bạn có thể loại bỏ spyware một cách thủ công bằng việc sử dụng tùy chọn Add/Remove Programs trong bảng Control Panel của Windows. Tuy nhiên, giải pháp tốt nhất là bạn nên chạy một số phần mềm được thiết kế để tìm và diệt tận gốc spyware.

Hãy bắt đầu với phần mềm miễn phí Spybot Search and Destroy. Để tối ưu hóa chương trình, hãy luôn bảo đảm rằng bạn có danh sách những phần mềm gián điệp mới nhất bằng cách nhấn phím Search for updates. Tiếp đó, nhấn Scan để quét và loại bỏ tất cả những file bạn không cần thiết với phím Fix Problems. Lưu ý rằng trong một số trường hợp, việc loại bỏ spyware cũng sẽ mất tác dụng của tính năng chia sẻ file và một số phần mềm khác. (Nên xóa bỏ tất cả, sau đó cài đặt lại phần mềm miễn phí nếu nó ngừng hoạt động).

Không phần mềm chống spyware nào có khả năng "bắt" tất cả gián điệp. Vì vậy, hãy bổ sung bằng một chương trình khác. Xin giới thiệu với các bạn phần mềm miễn phí Ad-aware của Lavasoft. Cũng như với Spybot, hãy bảo đảm là bạn có danh sách spyware mới nhất bằng cách bấm nút WebUpdate.

Sau khi đã "thanh trừng" những tên gián điệp nguy hại, bạn vẫn nên thường xuyên quét lại máy tính để đề phòng chúng tái xâm nhập
Vậy làm sao nhận diện phần mềm gián điệp trong Windows?

Nếu chỉ đơn thuần sử dụng công cụ Task Manager trong Windows thì chúng ta không thể nào biết được tất cả chương trình đang chạy trong hệ thống. Tương tự, với từng chương trình cụ thể, chúng ta cũng không có đủ thông tin để đánh giá xem chương trình đó có thực sự cần thiết hay không. Và càng nguy hiểm hơn nếu chương trình đó có ý gây hại đến máy tính của bạn.

Trong Windows, một ứng dụng đang chạy thường “kéo theo” nhiều chương trình phụ trợ làm cho sự việc vốn dĩ đã phức tạp càng thêm “rối”. Bài viết sẽ giới thiệu đến bạn thông tin cần thiết để có thể xác định danh sách các chương trình đang chạy trên hệ thống Windows, đồng thời xem đâu là chương trình hợp lệ, phần mềm gián điệp hay vi-rút máy tính... Ngoài ra, bạn cũng sẽ được hướng dẫn cách “theo vết” mọi ứng dụng đang thực thi trên máy tính, kể cả mối hiểm họa mới nhất là rootkits.

“Nhân vô thập toàn” nên không ai dám chắc hệ thống của mình thực sự an toàn hay ổn định 100% trước mọi sự tấn công của vi rút máy tính. Cho dù đã sử dụng các công cụ bảo vệ cần thiết như tường lửa, phần mềm diệt vi rút, qui định nghiêm ngặt trong vấn đề tải ứng dụng ... nhưng hệ thống của bạn cũng đành thúc thủ trước sự lây nhiễm của những dạng tấn công mới. Yếu tố cơ bản để bảo vệ hệ thống là phải nhanh chóng phát hiện lỗ hổng bảo mật, cập nhật danh sách vi rút máy tính mới cho các công cụ trên. Nếu có một vi rút hay lổ hổng bảo mật mới xuất hiện mà hệ thống chưa được cập nhật thì chắc chắn hệ thống của bạn sẽ bị tin tặc tấn công. Vì vậy, cách phòng chống tốt nhất là sớm phát hiện những chương trình “ác ý” này trong hệ thống và loại bỏ chúng ngay lập tức.

AN TOÀN LÀ TRÊN HẾT

Vì các thao tác giới thiệu trong bài viết này có liên quan trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống Windows nên chúng ta phải tuân thủ một số nguyên tắc đảm bảo an toàn hệ thống như sau:

Trước hết, không được tùy tiện xóa bỏ hay sửa đổi nội dung của bất cứ một tập tin nào khi chưa biết rõ về chức năng, vai trò của nó đối với hệ thống. Tiến hành sao lưu hệ thống để đề phòng trục trặc. Với các hệ thống sử dụng Windows XP/Me thì nên sử dụng chức năng System Restore, thủ tục thực hiện như sau: nhấn Start.Programs.Accessories.System Tools.System Restore, tiếp đến chọn Create a restore point, rồi thực hiện theo các hướng dẫn. Hãy tiến hành thực hiện công việc này trước khi tác động trực tiếp vào hệ thống Windows.

Bạn cũng có thể loại bỏ chế độ không hiển thị các thư mục và tập tin hệ thống với thuộc tính “ẩn” của Windows. Mở tiện ích Windows Explorer hay bất cứ cửa sổ thư mục nào, chọn trình đơn Tools.Folder Options, tiếp đến chọn nhãn View. Tại mục Hidden files and folders, đánh dấu tuỳ chọn “Show hidden files and folders”, ngoài ra bỏ đánh dấu chọn tại các mục “Hide extensions for known file types” và “Hide protected operating system files (Recommended)”. Chọn Yes nếu xuất hiện cửa sổ cảnh báo của Windows. Ngoài ra, để giảm bớt khối lượng công việc trong quá trình thực hiện nên chạy các chương trình diệt vi rút máy tính và chống phần mềm gián điệp mà bạn đang sử dụng trong hệ thống.

Cuối cùng, nếu đã hoàn toàn tin chắc rằng tập tin đó là dấu hiệu của sự lây nhiễm một phần mềm xấu tính, hãy xóa chúng. Tuy nhiên, bạn không thể sử dụng cách này để loại bỏ các tập tin có phần mở rộng là .dll trong thư mục hệ thống Windows.

KIỂM TRA BỘ NHỚ

Bây giờ là lúc chuyển sang tìm hiểu xem các chương trình và dịch vụ nào đang hoạt động. Do công cụ Task Manager của Windows cung cấp không đủ thông tin cần thiết nên chúng ta sẽ sử dụng tiện ích miễn phí Process Explorer của Sysinternal. Theo mặc định, tiện ích Process Explorer chưa hiển thị ngay thông tin cần thiết của một chương trình nên bạn cần thực hiện thêm những thủ tục sau: khởi động Process Explorer, nhấn phải chuột lên tiêu đề một cột nào đó trong màn hình, chọn Select Columns. Tiếp đến, đánh dấu 4 tùy chọn là Process Name, Description, Company Name, Command Line. Trong màn hình Select Columns chọn nhãn DLL, đánh dấu chọn mục Path rồi nhấn OK. Sau đó, bạn nhấn View và kiểm tra xem tùy chọn Show Lower Pane đã được đánh dấu chưa. Cuối cùng, chọn trình đơn View.Lower Pane View.DLLs.

Với cấu hình khai như trên, mỗi khi chọn một chương trình trong danh sách các ứng dụng đang chạy thì Process Explorer sẽ cho chúng ta biết tất cả các tập tin DLL được chương trình cần đến khi đang chạy. Cột Command Line chỉ ra tên thư mục và ổ đĩa lưu trữ chương trình. Với các chương trình hoạt động ở dạng service (do tiện ích hệ thống svchost.exe điều khiển) thì tiện ích sẽ chỉ rõ số thứ tự của dịch vụ đó.

Các chương trình chạy trên bộ nhớ mà nơi lưu trữ là thư mục Temp (thư mục chứa các tập tin tạm thời của Windows trong quá trình hoạt động) sẽ được đánh dấu đỏ bên cạnh để chúng ta lưu ý xem xét kỹ hơn.Thường thì các chương trình gián điệp hay vi rút máy tính hay thực hiện cài đặt hoặc ẩn nấp tại thư mục này. Tuy nhiên cũng phải cẩn thận, nếu bạn đang cài đặt một phần mềm nào đó thì thư mục Temp của Windows cũng là nơi chứa các tập tin cần thiết cho trình cài đặt ứng dụng ví dụ như InstallShield. Bạn cũng cần lưu ý rằng trong Windows XP, khi chương trình Explorer.exe hoạt động thì các dịch vụ như smss.exe, winlogon.exe, services.exe, alg.exe và lsass.exe cũng sẽ được chạy trong bộ nhớ của máy tính. Vì thế hãy tránh đ ụ n g đến những chương trình quan trọng này.

Tuy vậy, cần lưu ý đến chương trình rundll32.exe xuất hiện trong bộ nhớ của hệ thống. Rất nhiều phần mềm gián điệp hay vi rút máy tính ẩn nấp dưới dạng tập tin .dll, sử dụng chương trình này làm bàn đạp để xâm nhập vào bộ nhớ của hệ thống. Đây chính là cơ chế mà Windows khởi động các chương trình điều khiển thiết bị nên trước khi loại bỏ chương trình nào, bạn cần xem xét kỹ liệu chúng có phải là chương trình của Windows hay không. Thông thường tên thư mục lưu giữ tập tin chương trình trên đĩa cứng sẽ chứng tỏ đó có phải là một chương trình hợp pháp không.

XÁC ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH CHƯA RÕ DANH TÍNH

Khi Windows hoạt động, một chức năng chủ chốt của hệ điều hành chạy sẽ khởi động rất nhiều tập tin phụ trợ (thường là hoạt động ở chế độ nền), ví dụ như các chương trình điều khiển thiết bị phần cứng, điều khiển cổng kết nối máy tính, kết nối mạng... Khi khảo sát một chương trình đang hoạt động trong bộ nhớ bằng tiện ích Process Explorer, thông tin trên các cột Description, Company Name, Command Line... sẽ giúp chúng ta biết được các tập tin này dùng để làm gì, do ai sản xuất và được lưu giữ ở đâu

Nếu một chương trình nào đó không có một hay tất cả 4 thông tin vừa đề cập thì thực hiện thủ tục sau: Trong màn hình của Process Explorer nhấn phải chuột lên chương trình cần xem, chọn Properties. Nếu thông tin trong nhãn Image vẫn chưa đủ thì nhấn nhãn Services. Những thủ tục hợp lệ được liệt kê ở cột hơi thụt vào một chút dưới dòng “service.exe” sẽ xuất hiện dưới nhãn này.

Hãy làm theo các hướng dẫn ở trên để kiểm tra tất cả chương trình và dịch vụ hoạt động ở chế độ nền. Trường hợp một chương trình đang hoạt động nhưng không có thông tin gì thì bạn phải xử lý chúng như thế nào? Đây chính là lúc chúng ta tiến hành tìm kiếm thông tin về chương trình này bằng Internet.

TẬN DỤNG INTERNET

Nếu cần tìm thông tin về một tập tin DLL nào đó thì bạn có thể tham khảo ở cơ sở dữ liệu DLL Help Database của Microsoft tại địa chỉ http://support.microsoft.com/dllhelp/.Nếu nghi ngờ một tập tin là phần mềm gián điệp thì tra cứu tại cơ sở dữ liệu Spyware Information Center (http://www3.ca.com/securityadvisor/pest/) hay Pest Encyclopedia (http://research.pestpatrol.com/) lưu trữ thông tin của 27.000 phần mềm gián điệp. Trang web Task List Programs tại địa chỉ AnswerThatWork.com sẽ cho chúng ta biết thông tin phần mềm ứng dụng cũng như là vi rút máy tính và spyware. Ngoài ra các tiện ích như WinPatrol hay WinTask 5 Professional của Uniblue cũng cho biết một tiện ích hay tập tin .dll có phải là chương trình nguy hiểm hay không. Hai tiện ích này còn có một cơ sở dữ liệu trực tuyến về hàng ngàn tập tin chương trình hay DLL. Riêng tiện ích WinTask còn có chức năng lập được “danh sách đen” các chương trình cấm không cho chạy trên hệ thống.

Nếu chỉ có mục đích tìm kiếm các chương trình nguy hiểm thì bạn nên xem xét sử dụng công cụ có tên là Security Task Manager của Neuber Software 7. Giống như một phần mềm diệt vi rút máy tính, công cụ này cho phép kiểm tra và đánh giá tất cả các tập tin chương trình trong hệ thống của bạn (tập tin thực thi, trình điều kiển thiết bị, tập tin .dll) có phải là chương trình gián điệp hay không cho dù chúng được chưa khởi động.

Dù sao đi nữa, bạn cũng đừng quá tin vào những kết quả trên internet. Cho dù hàng ngàn website trên thế giới đều nói rằng một tập tin có tên nào đó là nguy hiểm nhưng chỉ cần Microsoft nói rằng đó là một chương trình ứng dụng “an toàn” thì tất cả thông tin của hàng ngàn website trên đều trở nên vô nghĩa. Càng có nhiều thông tin, nguy cơ bạn xóa nhầm các tập tin đó càng thấp.
Các phần mềm gián điệp này có phạm pháp không?

Ngay cả khi bạn cảm giác rằng các Spyware là những kẻ quấy rối phiền phức, luôn xâm phạm đời sống riêng tư của bạn thì cũng xin nhắc với bạn rằng sự hoạt động của các Spyware là không hề phạm pháp! Thật vậy, nếu để ý hơn một chút nữa, bạn sẽ biết rằng trong phần “quy ước” trước khi cài đặt phần mềm mà “trên nguyên tắc” là người sử dụng phải đọc thật kỹ, có nói đến sự hiện diện của 1 Spyware trong chương trình. Nhưng chắc chắn chỉ có ít hơn 1% người trong số chúng ta chịu đọc hết tất cả các điều khoản trong bản hợp “đồng đó” vì thông thường nó dài cả trăm trang và phần nhắc đến Spyware thì không thực sự rõ ràng.

Tóm lại sự ra đời của Spyware làm 99% những người sử dụng vi tính khó chịu vì khi đã chấp nhận sử dụng chương trình thì dĩ nhiên phải “chịu đấm ăn xôi”, đành làm lơ với các Spyware. 1% còn lại là ai? Là những lập trình viên tạo ra các phần mềm chống Spyware.

Làm sao gở bỏ những spyware

Trong một số trường hợp, bạn có thể gõ bỏ các trình adware và spyware khi đọc kỹ phần thoả thuận của phần mềm cài đặt. Thường thì cách làm này sẽ cho phép cài đặt miễn phí chương trình mà không gộp những thứ không mong muốn. Nhưng cũng có một số adware và spyware "âm thầm" cài đặt mà không có bất cứ một công cụ khả dĩ nào có thể giúp bạn gõ bỏ chúng sau này.

Để bảo vệ máy tính của bạn chống lại adware, spyware và nhiều chương trình có chức năng tương tự khác, bạn nên sử dụng tiện ích chống spyware miễn phí, chẳng hạn như :
Spybot Search & Destroy của PepiMK Software (download tại địa chỉ:
http://www.anonym.to/?http://downloa...age&tag=button

Hoặc Ad-ware của Lavasoft (download tại địa chỉ:
http://www.anonym.to/?http://downloa...ml?tag=lst-0-1)

Trong thực tế, có lẽ tốt nhất nên dùng kết hợp cả hai vì nếu dùng một, đôi khi nó không thể phát hiện được hết các trình độc hại trong máy. Hai phần mềm trên không có tác dụng virus, nên bạn phải cài thêm một phần mềm chống virus vào trong máy, như Norton AntiVirus của Symantec chẳng hạn.

Và để phát hiện được các spyware và adware có thể được gắn kèm trong các chương trình download, bạn có thể dùng thử Spy Sweeper, một dạng quét tìm spy trực tuyến.

Quét virus

Khi đã nghi ngờ hệ thống nhiễm virus, bạn cần tìm phần mềm để kiểm tra và tiêu diệt chúng. Lưu ý: phòng chống virus trước khi chúng xâm nhập vào hệ thống bao giờ cũng đơn giản hơn việc tiêu diệt chúng.

Sau khi lựa chọn phần mềm phù hợp, bạn cần cài đặt chúng vào hệ thống. Một số virus "quỷ quái" đến mức sau khi lây nhiễm vào hệ thống, chúng ngăn chặn người dùng cài đặt hoặc khống chế luôn những phần mềm này để không phát hiện được chúng, ngăn chặn việc truy cập đến website của nhà sản xuất. Nếu không cài đặt được ở chế độ Normal trong Windows, hãy thử cài đặt ở chế độ Safe mode. Để khởi động máy tính trong chế độ Safe mode, thực hiện như sau:

1. Sử dụng System Configuration Utility hoặc nhấn phím F8 trong quá trình khởi động Windows để vào chế độ Safe mode.

- Đóng tất cả các ứng dụng đang sử dụng.

- Chọn Start. Run. Gõ dòng lệnh msconfig và nhấn Ok để mở cửa sổ System Configuration Utility

- Trong tab BOOT.INI, đánh dấu tùy chọn /SAFEBOOT trong mục Boot Options (hình 2)

- Nhấn Ok và chọn Restart để xác nhận việc khởi động lại máy tính để vào chế độ Safe mode.

Lưu ý:

Khởi động lại máy tính trong chế độ Normal: Thực hiện các bước trên và bỏ tùy chọn /SAFEBOOT trong mục Boot Options.

Cập nhật danh sách virus. Như đã đề cập bên trên, nếu không thể truy cập đến các website của nhà sản xuất, không thể cập nhật danh sách virus (virus definition) trực tuyến; bạn hãy tải chúng về từ máy tính khác để cập nhật.

Tắt System Restore. Nếu sử dụng Windows ME hoặc XP, bạn nên tắt tính năng System Restore khi máy tính bị nhiễm virus. Mặc định trong Windows ME và XP, tính năng này được kích hoạt để giúp bạn khôi phục hệ thống khi gặp sự cố. Các phần mềm chống virus không thể quét được thư mục System Volume Information, nơi System Restore lưu trữ những tập tin, thư mục giúp khôi phục hệ thống. Vì vậy sẽ xảy ra tình trạng "tái nhiễm" virus khi System Restore phục hồi hệ thống các bản lưu trữ bị nhiễm virus.

Để tắt System Restore trong Windows XP, thực hiện như sau:

- Nhấn phải chuột trên My Computer, chọn Properties

- Trong cửa sổ System Properties, tab System Restore, đánh dấu tùy chọn Turn off System Restore on all drivers và nhấn OK (hình 3)

- Chọn Yes khi xuất hiện yêu cầu xác nhận việc này.

Nếu sử dụng Windows ME, thực hiện như sau:

- Trên màn hình Desktop, nhấn phải chuột vào biểu tượng My Computer và chọn Properties.

- Trong cửa sổ System Properties, chọn Performance. File System. Troubleshooting

- Đánh dấu tùy chọn lên Disable System Restore và nhấn OK

- Chọn Close và Yes để khởi động lại Windows

Lưu ý: tắt tính năng System Restore đồng nghĩa với việc xóa tất cả các điểm khôi phục (restore points). Bạn hãy tạo thủ công một điểm khôi phục khi System Restore được bật trở lại.

Quét ở chế độ đầy đủ (full system scan). Thiết lập mặc định của một số chương trình phòng chống virus chỉ quét một số loại tập tin được chỉ định trước. Để chắc ăn, bạn nên thiết lập "full system scan" để máy tính được kiểm tra đầy đủ nhất. Một số lưu ý trong quá trình quét:

- Nếu gặp thông báo lỗi phần mềm không thể xóa được virus hoặc một tập tin nào đó của virus. Bạn hãy khởi động lại máy tính ở chế độ Safe mode và tiếp tục việc kiểm tra

- Kết thúc quá trình quét, chương trình sẽ đưa ra báo cáo tổng kết những virus được phát hiện và cách xử lý chúng. Nếu chương trình không thể diệt được một vài loại virus nào đó, bạn thử diệt chúng một cách thủ công. Sử dụng công cụ tìm kiếm với từ khóa là tên virus đó, bạn sẽ tìm thấy những thông tin hướng dẫn cách tiêu diệt tại một số website nhà sản xuất phần mềm phòng chống virus.

- Sau khi khởi động lại Windows trong chế độ Normal, nếu gặp thông báo lỗi tương tự như "Windows cannot find [FILE NAME]. Make sure you typed the name correctly, and then try again. To search for a file, click the Start button, and then click Search". Ví dụ: với virus W32.Lecna.A, bạn sẽ gặp thông báo lỗi không tìm thấy tập tin iexplore.exe. Đây là những "tàn tích" còn sót lại của virus W32.Lecna.A dù chúng đã bị diệt. Để xóa chúng, bạn cần tìm và xóa những khóa do virus này thêm vào trong Registry. Chúng tôi vẫn lưu ý bạn đọc nên sao lưu Registry trước khi bạn "###############ng" đến chúng.

Chọn Start. Run để mở cửa sổ DOS Prompt; gõ vào lệnh "regedit" để mở cửa sổ Registry Editor. Nếu gặp thông báo lỗi "Registry editing has been disable by your administrator", tham khảo thông tin liên quan đến lỗi này trong bài viết "Internet Explorer luôn truy cập trang web lạ”, ID: A0604_154.

Tìm và xóa các khóa có liên quan đến spyware trong các nhánh sau:

- KEY_LOCAL_MACHINESoftwareMicrosoftWindowsCurrentVersionRun. Xóa khoá "iexplore.exe" = "iexplore.exe" ở khung bên phải.

- HKEY_LOCAL_MACHINESoftwareMicrosoftCurrentNetInf. Xóa khóa "hostid" = "[RANDOM NUMBER]" và "pid" = "[ENCRYPTED DATA]"

- HKEY_LOCAL_MACHINESYSTEMCurrentControlSetControlLsa. Xóa khóa "forceguest" = "0"

Thoát khỏi Registry Editor và khởi động lại máy tính.

Cập nhật các bản sửa lỗi cho HĐH, phần mềm. Một số virus như W32.Blaster.Worm thường khai thác lỗ hổng trong dịch vụ Remote Procedure Call của HĐH Windows NT/2000/XP để phá hoại. Nếu sử dụng các phần mềm của Microsoft, bạn có thể cập nhật bản sửa lỗi từ http://www.microsoft.com/downloads/S...displaylang=en, tránh tình trạng tái nhiễm sau khi quét.

Hãy luôn có ý thức về độ an toàn của hệ thống :

Khi bạn đã gõ bỏ những chương trình không mong muốn ra khỏi máy, bạn có thể giữ hệ thống trong tình trạng luôn "sạch sẽ" bằng việc tránh download những chương trình không mấy tin tưởng về nguồn gốc xuất xứ, hay thiết lập các thông số an toàn của trình duyệt Internet Explorer để tránh việc tự động cài đặt chương trình.

Để kiểm tra các thiết lập của trình duyệt IE, chọn Tool - Internet Options, rồi click vào thanh tab Security, chọn Interent Zone. Để cho an toàn, thiết lập Security settings phải ở mức Medium (hoặc cao hơn). Tuy nhiên, thiết lập độ an toàn này vẫn cho phép những chương trình "trông có vẻ an toàn" chạy trên máy của bạn.

Thật không may là hiện nay vẫn chưa có tiện ích nào có thể biết đích xác một chương trình có chứa virus, spyware ... hay không ! Tố nhất bạn nên tham khảo thông tin về các trình phần mềm khi quyết định cài đặt chúng. Nếu bạn nghĩ chúng an toàn, bạn có thể tiến hành cài đặt, nhưng phải chắc rằng máy của bạn phải được "trang bị" những tiện ích chống spyware cập nhập.

hình số 2 :




hình số 3 :
 
 
(Tổng hợp từ các nguồn :
pcworld.com.vn
diendan.thienantech.com
jaist.ac.jp/~dnthao/cgi-bin/Pforum/cgi-bin/ultimatebb.cgi)

 
Today, there have been 1 visitors (69 hits) on this page!
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=
Đến với thành phố biển Vũng Tàu